01/10/2026
Đất rừng sản xuất là loại đất được sử dụng để phát triển rừng sản xuất theo quy định của pháp luật về đất đai và lâm nghiệp. Rừng sản xuất có thể bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng, với mục tiêu quản lý, bảo vệ và khai thác các giá trị kinh tế của rừng theo hướng bền vững.

Bên cạnh hoạt động sản xuất lâm nghiệp, pháp luật hiện hành cho phép khai thác một số giá trị khác của rừng, trong đó có hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và giải trí. Nghị định 156/2018/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung đến năm 2026, xác định dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng sản xuất là dự án đầu tư sử dụng môi trường rừng để kinh doanh các dịch vụ này.
Do đó, việc sở hữu hoặc được giao, thuê đất rừng sản xuất không đồng nghĩa với việc người sử dụng đất có thể tùy ý chuyển khu đất thành khu nghỉ dưỡng, homestay hoặc khu du lịch. Hoạt động khai thác du lịch phải được thực hiện theo đúng quyền của chủ rừng, phương án quản lý rừng bền vững và các quy định có liên quan.
Đất rừng sản xuất có thể được sử dụng để phát triển hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Theo quy định hiện hành, đối với một số nhóm chủ rừng được quy định tại Điều 32 Nghị định 156/2018/NĐ-CP, chủ rừng có thể tự tổ chức, hợp tác, liên kết hoặc cho tổ chức, cá nhân thuê môi trường rừng để kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí. Hoạt động này phải phù hợp với phương án quản lý rừng bền vững đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và các quy định liên quan.
Đối với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân hoặc cộng đồng dân cư, pháp luật cũng cho phép tự tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, tham quan, học tập, nghiên cứu khoa học nếu phù hợp với phương án quản lý rừng bền vững được phê duyệt.
Điểm cần lưu ý là “làm sinh thái” không đồng nghĩa với việc được tự do chuyển mục đích sử dụng đất hoặc xây dựng công trình trên đất rừng sản xuất. Nếu mô hình dự kiến có nhà lưu trú, bungalow, nhà hàng, khu dịch vụ hoặc các hạng mục xây dựng khác, người thực hiện còn phải xem xét quy định về xây dựng, đầu tư, môi trường và các quy định khác có liên quan.
Tùy hiện trạng rừng, quyền của chủ rừng và phương án được phê duyệt, hoạt động khai thác du lịch sinh thái có thể gắn với các dịch vụ như tham quan, trải nghiệm thiên nhiên, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí và các dịch vụ phục vụ khách du lịch trong phạm vi được phép.
Pháp luật cũng quy định cơ chế cho thuê môi trường rừng để kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí. Với phương thức này, tổ chức hoặc cá nhân thuê môi trường rừng phải thực hiện dự án theo đúng phương án, hợp đồng và các điều kiện được phê duyệt, thay vì tự chuyển đổi khu đất thành một loại đất khác để kinh doanh.

Đất rừng sản xuất có thể kết hợp khai thác giá trị du lịch sinh thái theo quy định. (Nguồn: Sưu tầm)
Vì vậy, khi tìm hiểu đất rừng sản xuất làm sinh thái, cần xác định rõ mô hình dự kiến là khai thác cảnh quan, trải nghiệm thiên nhiên hay có thêm công trình lưu trú, dịch vụ. Mỗi hình thức có thể kéo theo những yêu cầu pháp lý khác nhau.
Trước khi triển khai mô hình sinh thái trên đất rừng sản xuất, cần kiểm tra tình trạng pháp lý của khu đất, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch lâm nghiệp có liên quan. Đây là cơ sở để xác định khu đất có phù hợp với phương án dự kiến hay không.
Pháp luật lâm nghiệp yêu cầu các hoạt động liên quan đến giao rừng, cho thuê rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng phải phù hợp với quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia, quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch sử dụng đất cấp huyện theo quy định hiện hành.
Do đó, trước khi đầu tư, không nên chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc thông tin người bán cung cấp. Cần kiểm tra đồng thời loại đất, hiện trạng rừng, quy hoạch và quyền của chủ rừng đối với diện tích dự kiến khai thác.
Hoạt động du lịch sinh thái trên đất rừng sản xuất phải đặt trong khuôn khổ quản lý và bảo vệ rừng. Với các trường hợp thuộc diện phải lập, phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững, hoạt động du lịch phải phù hợp với phương án này.
Đối với một số chủ rừng là tổ chức, việc kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí có thể được thực hiện theo hình thức tự tổ chức, hợp tác, liên kết hoặc cho tổ chức, cá nhân thuê môi trường rừng. Đây là cơ chế được quy định riêng cho hoạt động du lịch trong rừng sản xuất.
Điều này cũng có nghĩa người sử dụng đất cần phân biệt giữa quyền sử dụng đất và quyền khai thác môi trường rừng. Có đất rừng sản xuất không mặc nhiên đồng nghĩa với việc được triển khai mọi loại hình kinh doanh trên diện tích đó.
Mô hình sinh thái phải bảo đảm không làm suy giảm giá trị và chức năng của rừng. Các hoạt động đầu tư, khai thác du lịch cần tính đến hiện trạng rừng, cảnh quan tự nhiên, đa dạng sinh học, phòng cháy chữa cháy và các yêu cầu về bảo vệ môi trường.
Trong quá trình thẩm định các đề án du lịch sinh thái, các nội dung được xem xét bao gồm hiện trạng rừng, khả năng tổ chức hoạt động du lịch, quy mô công trình, giải pháp bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và phòng cháy, chữa cháy.
Vì vậy, một mô hình được gọi là “sinh thái” không chỉ dựa trên ý tưởng kinh doanh mà còn phải chứng minh được khả năng tổ chức hoạt động phù hợp với yêu cầu quản lý rừng bền vững.
Nếu mô hình đất rừng sản xuất làm sinh thái có phát sinh công trình, đây là vấn đề cần được kiểm tra riêng. Việc được phép kinh doanh du lịch sinh thái không đồng nghĩa với việc có thể tự xây dựng nhà ở, bungalow, homestay, nhà hàng hoặc các công trình dịch vụ trên toàn bộ diện tích đất.
Đối với dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng, các nội dung về vị trí, quy mô, vật liệu, chiều cao, mật độ và tỷ lệ công trình phải được xem xét trong đề án và tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng. Các dự án có cấu phần xây dựng còn phải thực hiện các thủ tục tương ứng theo pháp luật xây dựng.
Vì vậy, nếu mục tiêu là xây dựng một khu nghỉ dưỡng hoặc mô hình lưu trú trên đất rừng sản xuất, cần kiểm tra đồng thời quyền sử dụng đất, quyền khai thác môi trường rừng, phương án quản lý rừng, đề án du lịch, quy hoạch xây dựng và thủ tục đầu tư trước khi triển khai.
Việc phát triển du lịch sinh thái trên rừng sản xuất không mặc nhiên đồng nghĩa với việc phải chuyển toàn bộ diện tích đất rừng sang đất thương mại, dịch vụ. Pháp luật lâm nghiệp đã quy định riêng về hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng sản xuất, theo đó chủ rừng thuộc các trường hợp được quy định có thể tự tổ chức, hợp tác, liên kết hoặc cho thuê môi trường rừng để kinh doanh dịch vụ này. Hoạt động phải phù hợp với phương án quản lý rừng bền vững được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Về bản chất, hình thức này là khai thác môi trường rừng để phát triển dịch vụ du lịch, thay vì tự ý thay đổi mục đích sử dụng của toàn bộ khu đất. Vì vậy, người có quyền sử dụng đất hoặc chủ rừng cần xác định rõ mô hình dự kiến thuộc trường hợp khai thác môi trường rừng hay có nhu cầu chuyển một phần diện tích sang mục đích sử dụng khác.
Đối với hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư là chủ rừng, pháp luật cho phép tự tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, tham quan, học tập, nghiên cứu khoa học nếu phù hợp với phương án quản lý rừng bền vững đã được phê duyệt.
Cần phân biệt hoạt động du lịch sinh thái trong rừng với việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác. Theo quy định hiện hành, chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác là việc thay đổi mục đích sử dụng rừng sản xuất, rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng sang mục đích khác bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Do đó, nếu dự án không chỉ khai thác môi trường rừng mà có yêu cầu chuyển diện tích rừng sang mục đích khác để thực hiện dự án, người sử dụng đất phải xem xét các điều kiện và thủ tục về chuyển mục đích sử dụng rừng, đồng thời thực hiện các thủ tục về đất đai theo trường hợp cụ thể.
Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi xây dựng các mô hình có quy mô lớn. Không nên hiểu rằng chỉ cần được chấp thuận về mặt du lịch sinh thái là có thể tự động sử dụng toàn bộ diện tích đất rừng để xây dựng các công trình thương mại, lưu trú hoặc dịch vụ.
Rủi ro thường phát sinh khi người sử dụng đất tự ý xây dựng công trình, thay đổi hiện trạng rừng hoặc sử dụng đất cho hoạt động không phù hợp với mục đích và hồ sơ pháp lý được phê duyệt.

Cần xác định rõ phạm vi được phép khai thác, phương thức tổ chức hoạt động và các công trình dự kiến xây dựng. (Nguồn: Sưu tầm)
Đối với rừng sản xuất, pháp luật yêu cầu các hoạt động làm ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái rừng phải tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường và chỉ được thực hiện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Vì vậy, trước khi triển khai mô hình đất rừng sản xuất làm sinh thái, cần xác định rõ phạm vi được phép khai thác, phương thức tổ chức hoạt động và các công trình dự kiến xây dựng. Việc tự ý san lấp, chặt cây, xây dựng hoặc thay đổi mục đích sử dụng đất khi chưa hoàn tất thủ tục có thể dẫn đến yêu cầu khắc phục hiện trạng và các nghĩa vụ pháp lý liên quan.
Khu trải nghiệm thiên nhiên có thể tập trung vào các hoạt động như tham quan rừng, đi bộ theo tuyến, tìm hiểu hệ sinh thái, quan sát cảnh quan hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục về môi trường.
Đây là nhóm hoạt động có thể gắn trực tiếp với giá trị cảnh quan và môi trường rừng. Tuy nhiên, việc tổ chức vẫn phải phù hợp với phương án quản lý rừng bền vững và phạm vi hoạt động được phê duyệt.
Khi triển khai, chủ dự án cần ưu tiên phương án hạn chế tác động đến thảm thực vật, hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên, đồng thời bố trí tuyến tham quan và các điểm dịch vụ phù hợp với điều kiện thực tế của khu rừng.
Một số mô hình có thể kết hợp hoạt động lâm nghiệp với sản xuất nông nghiệp, trải nghiệm canh tác hoặc tham quan dưới tán rừng. Đối với rừng sản xuất, pháp luật cho phép kết hợp sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp theo những điều kiện nhất định.
Chẳng hạn, với diện tích đã có rừng, chủ rừng có thể trồng xen cây nông nghiệp, cây lâm sản ngoài gỗ, chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng nhưng không được làm suy giảm diện tích, chất lượng hoặc ảnh hưởng đến khả năng tái sinh của rừng. Đối với đất chưa có rừng, việc kết hợp sản xuất cũng phải bảo đảm tỷ lệ diện tích có rừng theo quy định.
Nếu kết hợp thêm hoạt động tham quan hoặc trải nghiệm, mô hình cần được xem xét đồng thời dưới góc độ sản xuất lâm nghiệp và du lịch sinh thái, thay vì chỉ coi đây là một khu kinh doanh dịch vụ thông thường.
Mô hình nghỉ dưỡng sinh thái có thể bao gồm các điểm lưu trú, khu nghỉ chân hoặc công trình dịch vụ gắn với cảnh quan rừng. Tuy nhiên, đây là nhóm mô hình có yêu cầu pháp lý cao hơn so với hoạt động tham quan đơn thuần do có thể phát sinh công trình xây dựng.
Đối với dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng, đề án phải thể hiện các nội dung liên quan đến vị trí, quy mô, vật liệu, chiều cao, mật độ, tỷ lệ và thời gian tồn tại của công trình. Những nội dung này được xem xét cùng hiện trạng rừng và yêu cầu quản lý rừng bền vững.
Vì vậy, cụm từ “nghỉ dưỡng sinh thái” không đồng nghĩa với việc có thể xây dựng tùy ý các căn bungalow, villa hoặc khu lưu trú trên đất rừng sản xuất. Mỗi hạng mục phải được xem xét trong tổng thể dự án và tuân thủ các quy định liên quan về xây dựng.
Đây là mô hình tập trung vào tham quan, học tập, tìm hiểu hệ sinh thái và nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng. Hoạt động có thể được tổ chức theo các tuyến tham quan, điểm giới thiệu hệ sinh thái hoặc chương trình trải nghiệm phù hợp với đặc điểm khu rừng.
Với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân hoặc cộng đồng dân cư, pháp luật cho phép tự tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, tham quan, học tập và nghiên cứu khoa học nếu phù hợp với phương án quản lý rừng bền vững được phê duyệt.
Dù mô hình có quy mô nhỏ, người tổ chức vẫn cần kiểm soát lượng khách, phương tiện, chất thải, nguy cơ cháy rừng và các hoạt động có thể tác động đến hệ sinh thái. Việc phát triển trải nghiệm thiên nhiên cần đặt mục tiêu bảo vệ và duy trì giá trị của rừng song song với khai thác giá trị du lịch.
Việc đất rừng sản xuất làm sinh thái có thể thực hiện trong những trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định về đất đai và lâm nghiệp. Người sử dụng đất cần xác định rõ hiện trạng rừng, quy hoạch, quyền khai thác môi trường rừng, phương án quản lý rừng và các yêu cầu liên quan đến xây dựng, môi trường trước khi triển khai. Đặc biệt, không nên tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, thay đổi hiện trạng rừng hoặc xây dựng công trình khi chưa hoàn tất các thủ tục cần thiết. Việc kiểm tra kỹ hồ sơ pháp lý và phạm vi được phép khai thác sẽ giúp hạn chế rủi ro trong quá trình đầu tư, vận hành mô hình sinh thái.
Thị trường nhà ở xã hội TP.HCM đang hướng đến tăng nguồn cung, mở rộng phân khúc cho thuê và tháo gỡ vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ dự án. Giai đoạn 2026–2030, thành phố được giao chỉ tiêu phát triển 181.257 căn nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê.
Tin nóng
Dự án tiềm năng