12/08/2026
Khung pháp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư năm 2026 được đặt trên nền tảng Luật Đất đai 2024, cùng các nghị định sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn thi hành. Đáng chú ý, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Văn bản hợp nhất 53/VBHN-BNNMT ngày 5/5/2026, hợp nhất các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Văn bản gồm 3 chương, 32 điều, giúp hệ thống hóa các quy định đang được áp dụng. Bên cạnh đó, quy định về giá đất cũng đã được hợp nhất tại 52/VBHN-BNNMT, bao gồm các nội dung về bảng giá đất và giá đất cụ thể.
Theo Điều 91 Luật Đất đai 2024, việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời và đúng pháp luật. Nguyên tắc bồi thường về đất là giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi; nếu không có đất để bồi thường thì thực hiện bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do cơ quan có thẩm quyền quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đây là căn cứ quan trọng khi xác định quyền lợi của người có đất bị thu hồi.

Không phải mọi trường hợp có đất bị thu hồi đều mặc nhiên được bồi thường về đất. Điều 95 Luật Đất đai 2024 quy định các nhóm đủ điều kiện, trong đó có hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải đất thuê trả tiền hằng năm; cộng đồng dân cư sử dụng đất trong những trường hợp luật định; người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được quy định và một số tổ chức, đối tượng khác. Điều kiện cụ thể còn phụ thuộc loại đất, nguồn gốc sử dụng và hồ sơ pháp lý. Vì vậy, việc có hay chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là căn cứ duy nhất để xác định quyền được bồi thường.
Đối với đất chưa có Giấy chứng nhận, trường hợp người sử dụng đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận nhưng chưa được cấp vẫn có thể được xem xét bồi thường nếu đáp ứng các điều kiện theo pháp luật. Ngược lại, những trường hợp sử dụng đất không hợp pháp hoặc thuộc diện không được bồi thường sẽ được xử lý theo quy định riêng. Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất, cần xác định rõ nguồn gốc, thời điểm sử dụng, quá trình biến động và các giấy tờ liên quan thay vì chỉ căn cứ vào tình trạng có sổ hay chưa.
Phạm vi bồi thường cũng không chỉ giới hạn ở quyền sử dụng đất. Tùy trường hợp, người bị thu hồi còn có thể được xem xét bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi, chi phí đầu tư vào đất còn lại và các tài sản hợp pháp khác gắn liền với đất. Đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện, Luật Đất đai 2024 còn quy định nhiều hình thức bồi thường, gồm đất nông nghiệp, tiền, đất có mục đích sử dụng khác hoặc nhà ở theo từng trường hợp.
Mức bồi thường không có một con số cố định áp dụng cho tất cả các tỉnh, thành. Trường hợp bồi thường bằng tiền, Luật Đất đai 2024 quy định căn cứ vào giá đất cụ thể của loại đất thu hồi tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Do đó, số tiền thực tế còn phụ thuộc vào loại đất, diện tích được công nhận, vị trí và các căn cứ xác định giá đất của từng trường hợp. Việc lấy giá rao bán trên thị trường hoặc một mức giá chung của địa phương để tự tính tiền bồi thường có thể dẫn đến kết quả không chính xác.
Một điểm cần phân biệt là bảng giá đất và giá đất cụ thể không phải cùng một khái niệm. Văn bản hợp nhất 52/VBHN-BNNMT quy định riêng về xây dựng, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất và định giá đất cụ thể. Vì vậy, khi kiểm tra phương án bồi thường, người có đất thu hồi cần xem cơ quan thực hiện đã sử dụng căn cứ giá nào, thời điểm xác định giá và loại đất nào để tính toán. Đây cũng là lý do không nên đồng nhất bảng giá đất của tỉnh với số tiền bồi thường trong mọi trường hợp.
Ngoài khoản bồi thường về đất, phương án còn có thể bao gồm giá trị tài sản gắn liền với đất và chi phí đầu tư vào đất còn lại nếu đủ điều kiện. Việc xác định từng khoản được thực hiện theo loại tài sản và tình trạng thực tế tại thời điểm kiểm kê. Với đất nông nghiệp, chính sách còn gắn bồi thường với các khoản hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất và chuyển đổi nghề, qua đó hạn chế việc người dân chỉ được giải quyết phần giá trị quyền sử dụng đất mà không có chính sách hỗ trợ sau thu hồi.

Người dân bị thu hồi đất được bồi thường theo quy định về giá đất và phương án được phê duyệt. Ảnh: Sưu tầm.
Bên cạnh tiền bồi thường, người bị thu hồi đất có thể được hưởng các khoản hỗ trợ tùy trường hợp và quy định cụ thể của địa phương. Đáng chú ý là hỗ trợ ổn định đời sống đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp đủ điều kiện bồi thường.
Theo Văn bản hợp nhất 53/VBHN-BNNMT, nếu bị thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng, thời gian hỗ trợ là 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và 12 tháng nếu phải di chuyển; trường hợp phải di chuyển đến vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, thời gian tối đa lần lượt là 12 và 24 tháng. Với trường hợp bị thu hồi trên 70%, thời gian hỗ trợ có thể lên tới 12–36 tháng tùy hoàn cảnh.
Mức hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo/người/tháng theo thời giá trung bình tại địa phương tại thời điểm hỗ trợ. Ngoài khoản này, chính sách còn có các hình thức hỗ trợ khác như ổn định sản xuất, kinh doanh; đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; hỗ trợ di chuyển và các khoản hỗ trợ khác theo quy định của từng địa phương. UBND cấp tỉnh có thể quy định mức và hình thức hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế nhưng phải bảo đảm không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định chung trong các trường hợp được pháp luật quy định.
Với trường hợp thu hồi đất ở khiến người dân phải di chuyển, chính sách tái định cư được xem xét cùng phương án bồi thường, hỗ trợ. Việc bố trí tái định cư nhằm bảo đảm người bị thu hồi đất có chỗ ở sau khi thực hiện dự án, trong đó pháp luật quy định các trường hợp được bồi thường bằng đất ở, nhà ở hoặc được bố trí các hình thức tái định cư phù hợp. Vì vậy, người dân cần xem đồng thời giá trị bồi thường, khoản hỗ trợ và phương án chỗ ở mới, thay vì chỉ so sánh số tiền được nhận.

Không có hộ khẩu vẫn có thể được bố trí tái định cư khi thu hồi đất. Ảnh: Sưu tầm.
Khi nhận phương án, cần đối chiếu riêng diện tích và loại đất được xác định, nguồn gốc sử dụng, giá đất áp dụng, tài sản trên đất, chi phí đầu tư còn lại, các khoản hỗ trợ và phương án tái định cư nếu có. Đây là cách phát hiện sớm những khác biệt giữa hồ sơ thực tế với số liệu được đưa vào phương án. Trường hợp chưa rõ căn cứ tính toán, người có đất bị thu hồi nên đề nghị cơ quan thực hiện bồi thường giải thích từng khoản và đối chiếu với quy định của tỉnh, thành phố nơi có đất.
Quy định năm 2026 đã được cập nhật qua nhiều văn bản nên không nên chỉ dựa vào các thông tin cũ về bồi thường thu hồi đất. Khi quyền lợi liên quan đến một thửa đất cụ thể, cần kiểm tra đồng thời hồ sơ pháp lý của thửa đất, phương án bồi thường được phê duyệt và quy định địa phương đang có hiệu lực. Cách tiếp cận này giúp xác định đúng căn cứ tính tiền và các khoản hỗ trợ, thay vì tự ước tính dựa trên giá đất thị trường hoặc kinh nghiệm từ những trường hợp khác.
Nhìn chung, quy định bồi thường thu hồi đất năm 2026 không chỉ tập trung vào giá trị quyền sử dụng đất mà còn bao gồm tài sản, hỗ trợ ổn định đời sống và chính sách tái định cư. Khi có quyết định thu hồi, người dân nên kiểm tra kỹ căn cứ tính bồi thường và đối chiếu với quy định của địa phương để bảo đảm quyền lợi của mình.
Nhà ống thường có đặc điểm hẹp ngang, sâu, hai bên dễ bị hạn chế về khả năng tiếp nhận ánh sáng tự nhiên. Vì vậy, cách bố trí ánh sáng tự nhiên cho nhà ống là yếu tố quan trọng khi thiết kế và cải tạo không gian sống. Từ tận dụng mặt tiền, bố trí giếng trời, ô thông tầng đến lựa chọn cửa kính và màu sắc nội thất, những giải pháp phù hợp có thể giúp ngôi nhà sáng thoáng hơn mà vẫn đảm bảo sự riêng tư và tiện nghi.
Tin nóng
Dự án tiềm năng