Đang tải...

TOP 8 công thức định giá bất động sản thành công từ chuyên gia trong ngành

Phương pháp định giá bất động sản không chỉ dựa vào giá rao bán trên thị trường. Tùy loại tài sản, mục đích định giá và dữ liệu thu thập, người định giá sử dụng cách tiếp cận từ thị trường, chi phí, thu nhập hoặc kết hợp nhiều phương pháp để ước tính giá trị phù hợp.

1. Có những phương pháp định giá bất động sản nào?

Tổng hợp 10 phương pháp và cách tính thường gặp gồm: so sánh trực tiếp, thu nhập, dòng tiền chiết khấu DCF, thặng dư, hệ số điều chỉnh giá đất, chi phí thay thế, chi phí tái tạo, tổng cộng, chiết trừ và định giá theo đơn giá thị trường trên mỗi m².

Trong đó, cần phân biệt rõ giữa thẩm định giá bất động sản và định giá đất theo Luật Đất đai. Luật Đất đai 2024 quy định 4 phương pháp định giá đất gồm so sánh, thu nhập, thặng dư và hệ số điều chỉnh giá đất. Trong khi đó, Thông tư 32/2024/TT-BTC quy định các chuẩn mực về cách tiếp cận từ thị trường, chi phí và thu nhập; Thông tư 42/2024/TT-BTC quy định riêng về thẩm định giá bất động sản.

image-20260925093524-1.png

Định giá bất động sản nhằm cung cấp thêm dữ liệu đánh giá cho nhà đầu tư (Nguồn: Sưu tầm)

Phương pháp

Cốt lõi

Bất động sản phù hợp

So sánh trực tiếp

Đối chiếu với tài sản tương đồng trên thị trường

Nhà phố, căn hộ, đất

Thu nhập

Giá trị dựa trên thu nhập ròng

Nhà cho thuê, văn phòng

DCF

Chiết khấu dòng tiền tương lai

BĐS tạo dòng tiền dài hạn

Thặng dư

Doanh thu phát triển trừ chi phí phát triển

Đất/dự án có tiềm năng phát triển

Hệ số điều chỉnh giá đất

Giá bảng giá đất × hệ số điều chỉnh

Một số trường hợp định giá đất theo luật

Chi phí tái tạo

Chi phí tái tạo tài sản tương đương trừ hao mòn

Công trình có tính đặc thù

Tổng cộng

Cộng giá trị các bộ phận tài sản

Tài sản nhiều cấu phần

Chiết trừ

Giá trị BĐS trừ giá trị công trình để suy ra đất

Đất có tài sản gắn liền

1.1. Phương pháp so sánh trực tiếp là gì?

Phương pháp so sánh trực tiếp xác định giá trị bất động sản bằng cách đối chiếu với các tài sản tương đồng đã có thông tin về giá trên thị trường, sau đó điều chỉnh những điểm khác biệt.

Đây là phương pháp phù hợp với các tài sản có nhiều giao dịch tương tự như căn hộ, nhà phố hoặc đất ở. Chuẩn mực thẩm định giá hiện hành quy định cách tiếp cận từ thị trường  được cụ thể hóa bằng phương pháp so sánh; việc phân tích cần xem xét các đặc điểm khác biệt giữa tài sản cần định giá và tài sản so sánh.

Ví dụ, một căn hộ 70 m²  được so sánh với những căn hộ cùng dự án hoặc khu vực có diện tích, tầng, hướng, chất lượng và tình trạng pháp lý tương đồng.

Công thức đơn giản  hình dung là:

Giá trị ước tính = Giá tài sản so sánh ± Điều chỉnh khác biệt.

Yêu cầu lớn của phương pháp này là chất lượng dữ liệu.Vì vậy, người mua nên kết hợp dữ liệu thị trường với khảo sát thực tế và kiểm tra pháp lý.

image-20260925093524-2.png

Phương pháp so sánh trực tiếp bất động sản (Nguồn: Sưu tầm)

1.2. Phương pháp thu nhập được tính như thế nào?

Phương pháp thu nhập định giá bất động sản dựa trên khả năng tạo ra thu nhập cho chủ sở hữu hoặc người sử dụng.

Theo chuẩn mực hiện hành, cách tiếp cận từ thu nhập phù hợp với những tài sản  dự báo được thu nhập trong tương lai và xác định được tỷ suất vốn hóa hoặc tỷ suất chiết khấu phù hợp. Hai phương pháp chủ yếu là vốn hóa trực tiếp và dòng tiền chiết khấu.

Với vốn hóa trực tiếp, công thức cơ bản là:

Giá trị bất động sản = Thu nhập thuần / Tỷ suất vốn hóa.

Ví dụ, một căn hộ cho thuê tạo ra 240 triệu đồng thu nhập ròng mỗi năm và tỷ suất vốn hóa giả định là 6%, giá trị ước tính sẽ khoảng:

240 triệu / 6% = 4 tỷ đồng.

Phương pháp này đặc biệt hữu ích với căn hộ cho thuê, tòa nhà văn phòng, mặt bằng thương mại và các tài sản có dòng thu nhập tương đối ổn định.

1.3. Phương pháp dòng tiền chiết khấu DCF là gì?

DCF – Discounted Cash Flow định giá bất động sản bằng cách dự báo các dòng tiền trong tương lai rồi quy đổi về giá trị hiện tại thông qua tỷ suất chiết khấu.

Khác với vốn hóa trực tiếp chỉ tập trung vào dòng thu nhập đại diện, DCF xem xét nhiều năm trong tương lai. Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam quy định dòng tiền phải được xây dựng dựa trên đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của tài sản, dữ liệu quá khứ, tài sản tương tự và các yếu tố của thị trường.

 hình dung:

Giá trị hiện tại = Tổng dòng tiền tương lai được chiết khấu + Giá trị tài sản cuối kỳ được chiết khấu.

Phương pháp DCF đặc biệt phù hợp với khách sạn, trung tâm thương mại, văn phòng, khu nghỉ dưỡng hoặc dự án mà doanh thu và chi phí thay đổi đáng kể theo từng giai đoạn.

Điểm cần chú ý là kết quả DCF phụ thuộc rất lớn vào các giả định về tốc độ tăng doanh thu, tỷ lệ lấp đầy, chi phí vận hành, lãi suất và giá trị tài sản cuối kỳ.

image-20260925093524-3.png

Phương pháp dòng tiền chiết khấu DCF định giá bất động sản (Nguồn: Sưu tầm)

1.4. Phương pháp thặng dư dùng để định giá loại bất động sản nào?

Phương pháp thặng dư phù hợp với bất động sản có tiềm năng phát triển, chẳng hạn đất trống hoặc khu đất  cải tạo, xây dựng dự án mới.

Theo Thông tư 42/2024/TT-BTC, giá trị bất động sản được xác định trên cơ sở lấy tổng doanh thu phát triển trừ tổng chi phí phát triển. Phương pháp này kết hợp các yếu tố của cách tiếp cận thị trường, chi phí và thu nhập.

Công thức khái quát: Giá trị bất động sản = Tổng doanh thu phát triển – Tổng chi phí phát triển.

Giả sử một khu đất  phát triển thành dự án với tổng doanh thu dự kiến 1.500 tỷ đồng. Nếu tổng chi phí phát triển hợp lý là 1.200 tỷ đồng thì giá trị thặng dư còn lại là 300 tỷ đồng.

Trong thực tế, đây là phương pháp đòi hỏi nhiều giả định nhất, bởi chỉ cần thay đổi giá bán, chi phí xây dựng, tiến độ bán hàng hoặc chi phí vốn thì kết quả định giá  thay đổi đáng kể.

1.5. Phương pháp chi phí thay thế được áp dụng như thế nào?

Phương pháp chi phí thay thế xuất phát từ câu hỏi: nếu phải tạo ra một tài sản mới có chức năng tương đương thì cần bao nhiêu chi phí?

Sau khi xác định chi phí thay thế, người định giá tiếp tục xem xét phần hao mòn của tài sản hiện hữu.

Chuẩn mực hiện hành xác định giá trị ước tính dựa trên chi phí thay thế đã bao gồm lợi nhuận của nhà sản xuất/nhà đầu tư trừ tổng giá trị hao mòn phù hợp.

Phương pháp này phù hợp hơn với các công trình đặc thù, tài sản có ít giao dịch so sánh hoặc những trường hợp khó xác định giá trị bằng phương pháp thị trường.

Ví dụ, với một công trình đặc biệt như trường học, bệnh viện hoặc công trình kỹ thuật chuyên dụng, giá trị không nhất thiết phản ánh đầy đủ qua giá mua bán của các tài sản tương tự.

1.6. Phương pháp chi phí tái tạo khác gì chi phí thay thế?

Chi phí tái tạo tập trung vào việc ước tính chi phí tạo ra một tài sản có đặc điểm tương đương với tài sản cần định giá, sau đó trừ hao mòn.

Điểm khác với chi phí thay thế nằm ở mục tiêu xây dựng lại. Chi phí thay thế thiên về một tài sản mới có chức năng, công dụng tương đương, trong khi chi phí tái tạo hướng tới việc tạo lại tài sản theo đặc điểm tương ứng với tài sản hiện hữu. Thông tư 32/2024/TT-BTC quy định cả hai trong cách tiếp cận từ chi phí.

Công thức: Giá trị tài sản = Chi phí tái tạo – Tổng giá trị hao mòn.

Phương pháp này hữu ích với công trình có kiến trúc, kết cấu hoặc đặc điểm rất riêng, nơi việc tìm một tài sản thay thế hoàn toàn tương đồng là khó khăn.

1.7. Phương pháp tổng cộng là gì?

Phương pháp tổng cộng xác định giá trị tài sản bằng cách cộng giá trị của từng bộ phận cấu thành.

Ví dụ, một tài sản bao gồm quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, hạ tầng kỹ thuật và các hạng mục khác. Mỗi cấu phần được xác định giá trị phù hợp, sau đó tổng hợp thành giá trị tài sản.

Chuẩn mực thẩm định giá hiện hành xác định phương pháp tổng cộng, còn gọi là phương pháp tài sản, thuộc cách tiếp cận từ chi phí.

Phương pháp này phù hợp khi một bất động sản không thể đánh giá đầy đủ chỉ bằng một mức giá tổng thể trên thị trường.

1.8. Phương pháp chiết trừ

Chiết trừ là phương pháp từng được sử dụng trong hệ thống định giá đất trước đây.Logic của phương pháp này là lấy giá trị của cả bất động sản rồi loại trừ phần giá trị của tài sản gắn liền với đất để suy ra giá trị quyền sử dụng đất. Biểu diễn đơn giản:

Giá trị đất ≈ Giá trị toàn bộ bất động sản – Giá trị công trình trên đất.

Trước đây, chiết trừ từng nằm trong nhóm phương pháp xác định giá đất. Tuy nhiên, Luật Đất đai 2024 hiện quy định 4 phương pháp gồm so sánh, thu nhập, thặng dư và hệ số điều chỉnh giá đất.

image-20260925093524-4.png

Phương pháp chiết trừ trong bất động sản(Nguồn: Sưu tầm)

2. Chọn lọc phương pháp đánh giá tại nơi cần tìm hiểu

2.1. Nên chọn phương pháp định giá bất động sản nào theo khu vực tìm hiểu?

Không có một phương pháp duy nhất phù hợp cho mọi loại bất động sản. Việc lựa chọn phụ thuộc vào đặc điểm tài sản, mục đích định giá, thời điểm định giá và dữ liệu  thu thập. Đây cũng là nguyên tắc được quy định trong chuẩn mực thẩm định giá bất động sản hiện hành.

Loại bất động sản

Phương pháp nên xem xét

Căn hộ đã có nhiều giao dịch

So sánh + giá/m² thị trường

Nhà phố

So sánh + chi phí

Đất ở

So sánh; trường hợp thuộc phạm vi định giá đất  áp dụng phương pháp theo Luật Đất đai

Căn hộ cho thuê

Thu nhập + DCF

Văn phòng

Thu nhập + DCF

Khách sạn

Thu nhập/DCF

Đất phát triển dự án

Thặng dư

Công trình đặc thù

Chi phí thay thế/tái tạo

Định giá đất theo quy định Nhà nước

So sánh, thu nhập, thặng dư, hệ số điều chỉnh

2.2. Định giá bất động sản cần kiểm tra những yếu tố nào ngoài giá?

Giá trị bất động sản không nên được nhìn qua một con số duy nhất. Vị trí, quy hoạch, pháp lý, khả năng tiếp cận giao thông, tiện ích xung quanh, chất lượng công trình, nguồn cung và nhu cầu đều  ảnh hưởng đến mức giá.

Đặc biệt, pháp lý và quy hoạch  làm thay đổi đáng kể giá trị của một tài sản. VnExpress cũng khuyến nghị người mua phải kiểm tra pháp lý và quy hoạch trước khi giao dịch, bởi các vấn đề này  ảnh hưởng đến khả năng sử dụng và thanh khoản của bất động sản.

Kết luận

Các 10 phương pháp định giá bất động sản được hiểu như một bộ công cụ gồm các phương pháp pháp lý, phương pháp thẩm định giá và cách ước tính thực tế trên thị trường. Trong đó, so sánh phù hợp với tài sản có nhiều giao dịch tương đồng; thu nhập và DCF phù hợp với BĐS tạo dòng tiền; thặng dư phù hợp với đất có tiềm năng phát triển; còn chi phí thay thế, tái tạo và tổng cộng hữu ích với những công trình đặc thù.

Điểm quan trọng nhất không phải chọn một công thức duy nhất mà là chọn đúng phương pháp cho đúng loại tài sản, sử dụng dữ liệu đáng tin cậy và kiểm tra lại bằng pháp lý, quy hoạch cùng điều kiện thị trường. Theo khung pháp lý hiện hành, cần đặc biệt phân biệt giữa định giá đất theo Luật Đất đai và thẩm định giá bất động sản theo các chuẩn mực thẩm định giá, bởi hai khái niệm này có phạm vi áp dụng khác nhau.